Ngày ấy có đôi bạn chí thân là Quắc và Nhân. Họ đều là con nhà học trò nghèo, lại đều mồ côi cha mẹ, Quắc được học nhiều hơn bạn: anh chàng làm thầy đồ dạy trẻ. Tuy bổng lộc chẳng có là bao nhưng Quắc vẫn thường giúp đỡ Nhân. Đối lại, có lần Quắc bị ốm nặng, giá không có bạn thuốc thang ngày đêm thì anh khó lòng sống nổi. Sau đó cũng vì sinh kế, đôi bạn phải chia tay mỗi người một ngả.
Trong khi Quắc sống cuộc đời
dạy trẻ thì Nhân cũng đi lang thang đến các vùng xa lạ làm thuê làm mướn. Trải
qua một thời kỳ lang bạt, cuối cùng anh chàng vào làm công cho một phú thương.
Thấy chàng thật thà chăm chỉ, phú thương rất tin cậy. Chẳng bao lâu Nhân được
phú thương gả con gái cho. Vợ Nhân có nhiều của riêng. Vì thế Nhân nghiễm nhiên
trở nên một phú ông có cơ nghiệp kha khá ở trong vùng. Nhân giàu nhưng không
quên tình bầu bạn. Nhân vẫn nhớ tới lời thề "sống chết sướng khổ có
nhau" với Quắc. Nhân cất công đi tìm và sung sướng thấy Quắc còn sống. Tuy
Quắc đang dở năm dạy, nhưng Nhân cũng thương lượng được với cha mẹ học trò cho
con em chuyển sang một cụ đồ khác rồi đưa Quắc về nhà mình.
Nhân dặn người nhà phải coi
Quắc không khác gì mình, cơm nước hầu hạ không được bê trễ. Nhưng tính vợ Nhân
không được như chồng. Xưa nay đối với những kẻ rách rưới, chị ta thường tỏ vẻ
coi thường. Vả, chị ta không cùng sống những ngày hàn vi với Nhân nên có thấy
đâu tình nghĩa giữa Nhân và Quắc như thế nào. Nhưng thấy chồng trọng đãi khách
nên lúc đầu chị không dám nói gì. Nhân luôn luôn bảo vợ: "Đây là người
thân nhất trong đời tôi. Nếu không có bạn thì tôi chưa chắc đã sống để gặp
nàng". Vợ Nhân chỉ lẩm bẩm: "Khéo! Bạn với bè! Chỉ có ngồi ăn
hại". Dần dần vợ Nhân bực mình ra mặt. Chị ta khó chịu vì cái ông khách lạ
tự dưng ở đâu đến chả giúp ích gì cho nhà mình, chỉ chễm chệ trên giường cao,
cơm rượu mỗi ngày hai bữa. Vợ Nhân trước còn nói mát sau thì ngoa ngoắt ra mặt.
Có hôm người đàn bà ấy đay nghiến cả chồng lẫn khách:
- Chẳng phải bố già, không
phải khách nợ, ở đâu lại rước về thờ phụng: ăn no lại nằm. Thôi liệu mà tống
quách đi!
Thấy thái độ vợ ngày càng quá
quắt, chồng chỉ sợ mất lòng bạn. Một mặt Nhân thân hành chăm chút bạn chu đáo
hơn cả lúc trước, mặt khác Nhân tỷ tê khuyên dỗ vợ. Nhưng vợ Nhân chứng nào vẫn
giữ tật ấy. Về phần Quắc thì chàng hiểu tất cả. Đã hai lần Quắc cáo bạn xin về
nhưng Nhân cố giữ lại. Thấy bạn chí tình, Quắc lại nấn ná ít lâu. Nhưng hôm đó
Quắc quả quyết ra đi vì chàng vừa nghe được những câu nói xúc phạm nặng nề.
Quắc nghĩ, nếu mình không đi sớm thì có ngày bị nhục với người đàn bà này. Mà
nếu ra đi như mấy lần trước thì sẽ bị bạn chèo kéo lôi thôi.
Một hôm, trời còn mờ sương,
Quắc cất lẻn ra khỏi nhà. Để cho bạn khỏi mất công tìm kiếm, khi đi qua một khu
rừng, chàng cởi khăn áo treo lên một cành cây bên đường. Đoạn Quắc lần mò đến
xứ khác trở lại cuộc đời dạy trẻ. Thấy mất hút bạn, Nhân bổ đi tìm. Khi nghe
tin có người bắt được khăn áo ở mé rừng phía Nam, chàng lật đật đến xem. Nhận rõ
ấy là khăn áo của bạn, Nhân rất thương cảm: "Ta nuôi bạn thành ra hại bạn!
Chắc bạn ta bị cướp giết chết". Nhưng sau đó Nhân lại nghĩ khác: "Bạn
ta ra đi trong túi không có một đồng một chữ thì dầu có gặp cướp cũng không
việc gì. Đây một là hùm beo ăn thịt, hai là bị lạc trong rừng sâu". Nhân
bắt đầu vào rừng tìm Quắc. Không thấy có vết máu, chàng lại càng hy vọng. Băng
hết chông gai, chui hết bụi rậm, Nhân luôn luôn cất tiếng gọi: "Anh Quắc
ơi! Quắc! Quắc!". Nhân đi mãi, gọi mãi, quanh quẩn trong rừng mênh mông.
Cho đến hơi thở cuối cùng con người chí tình ấy vẫn không quên gọi: "Quắc!
Quắc!". Rồi đó Nhân chết hóa thành chim quốc, cũng gọi là đỗ quyên.
Vợ Nhân đợi mãi không thấy
chồng về, lấy làm hối hận. Một hôm chị ta bỏ nhà bỏ cửa đi tìm chồng. Cuối cùng
cũng đến khu rừng phía Nam.
Nghe tiếng "Quắc! Quắc!", chị ta mừng quá kêu to: "Có phải anh
đấy không anh Nhân!" Không có tiếng trả lời ngoài những tiếng "Quắc!
Quắc!". Vợ Nhân cứ thế theo tiếng gọi tiến dần vào rừng sâu. Sau cùng
không tìm được lối ra, chết bên cạnh một gốc cây.